Close

Mục đích Hoằng Pháp

Suy ngẫm câu "Hoằng pháp vi gia vụ"

27/01/2014 8:42 SA



Trong chuyến hoằng pháp tại Tx.Vĩnh Long, Chùa Long Khánh, khi tiếp chuyện với Ni Trưởng Trụ Trì TN. Trí Tiên,Tuyên Luật Sư của Ni Đoàn Phật giáo tỉnh, chúng tôi được Ni Trưởng tặng cho bản thảo về đề tài: HOẰNG PHÁP TRONG THẾ KỶ 21, rất xúc tích và thực tiễn, xét thấy có lợi ích cho việc hoằng pháp, nay xin được luợc ghi để các pháp hữu đồng học cùng nhau suy ngẫm:

HOẰNG PHÁP TRONG THẾ KỶ 21

Hoằng pháp là việc làm muôn đời, là việc nhà của mình (Hoằng Pháp vi gia vụ), nhìn lại qúa khứ, hướng về tương lai để chuẩn bị hành trang nhập thế.


“Thái dương soi khắp hoàn cầu Hoằng truyền chánh pháp ngỏ hầu độ sanh”.


Đức Thế Tôn chỉ giáo: “Vì lợi ích cho chúng sanh, vì an lạc và hạnh phúc cho nhân loại”. Cho nên chúng ta là người hoằng pháp dựa trên tinh thần từ bi và trí tuệ, thực hành trong công tác hoằng pháp độ sanh lúc nào cũng lấy sứ mạng “Hoằng pháp lợi sanh là sự nghiệp” làm căn bản.


Đây là một sứ mạng thiêng liêng cao cả để đưa đạo Phật đi vào cuộc đời góp phần xây dựng cuộc sống ấm no hạnh phúc, đem lại sự an lạc cho mọi người.
Hoằng pháp: là chúng ta hiểu về hành trang, là tông chỉ của Đức Đạo Sư gieo hạt giống bồ đề cho chúng sanh.

Sau khi thành lập Tăng đoàn Đức Phật đã dạy: “Nầy các thầy Tỳ Kheo, nay đến thời hoá độ các ngươi hãy ra đi một người một ngã, đem ánh sáng đạo mầu hoằng truyền chánh pháp vì lợi tha cho quần sanh nhân loại, người xuất gia thượng cầu Phật đạo hạ hoá chúng sanh là niềm hoài bảo của người tu sĩ, hoằng pháp là một trách nhiệm lớn lao không thể thiếu được”.


Người hoằng pháp phải phát nguyện: “Nơi nào chúng sanh cần con đến, nơi nào Phật pháp cần con đi, không ngại khó khăn, không nề gian khổ”. 


Trong Tăng đoàn thời Phật, Tôn giả Phú Lâu Na là người tiêu biểu hàng đầu của sứ giả hoằng pháp.

Để hoàn thành mục đích hoằng pháp chúng ta cần phải lưu ý ba mục tiêu sau đây:


1 / Nhu cầu nghe pháp phải thành đạt
2/ Tinh thần Phú Lâu Na của tổ sư hoằng pháp 
3/ Thông đạt giáo đoàn hoằng pháp (Tâm đắc, Phật pháp uyên thâm)


“Hoằng pháp lợi sanh thường xuất thế tu hành định huệ độ quần sanh”, một vị hoằng pháp cần hội đủ mười yếu tố:


1/ Thông hiểu giáo lý
2/ Nói năng lưu loát
3/ Không e sợ trước đám đông 
4/ Phải có biện tài vô ngại
5/ Vân dụng phương tiện khéo léo 
6/ Biết tùy thuận hoàn cảnh và căn cơ của chúng sanh
7/ Có đầy đủ oai đức
8/ Tinh tấn dõng mãnh
9/ Có sức khoẻ thể xác và tinh thần
10/ Hội đủ oai lực


Đó là những yếu tố thời gian qua Tiền Bối Giảng Sư ta đã khai thác, và đã thành công. Noi gương ngài Phú Lâu Na chúng ta cần phải phát nguyện : “Thực hành tu hạnh bố giáo, hạnh nhẫn nhục đào luyện phải tư lương, tìm hiểu nhu cầu người nghe”, phụng sự đạo pháp và dân tộc trong thời đại mới.


Chúng ta phải làm gì đối với thế kỉ hiện đại văn minh đang phát triển cực điểm về công nghệ thông tin. Nhưng hoằng pháp phải bằng cách nào ? Và thời điểm ra sao? Là vấn đề cần suy nghĩ…

Đứng trước một cuộc sống cực kỳ tiến bộ về mọi mặt: khoa học, văn hoá, kinh tế, chánh trị, v.v… Những nhu cầu vật chất càng tinh vi sắc sảo.


Sách có câu: “Nhàn cư vi bất thiện” nghiã là: ( người quá nhàn, thường sanh tâm chẳng lành ) đối với con người ở thời đại mới lại còn khôn ngoan hơn , lanh lợi nhiều… Chính vì những điểm ưu thế này mà con người càng tăng trưởng lòng tự ngã, khổ đau trầm trọng. 


Cho nên nhu cầu về đời sống, tinh thần càng thúc đẩy, càng đòi hỏi sự sáng tạo tinh vi để mang lại sự an lạc hạnh phúc hữu hiệu cho con người.


Vì thế cho nên một vị giảng sư đi hoằng pháp phải trang bị cho mình những vấn đề cần có sau đây:

1. Thể hiện tinh thần: “Đoàn kết hòa hiệp – Trưởng dưởng đạo tâm – Trang nghiêm giáo hội – nâng cao kiến thức tổng quát”. Một con người muốn khách quan nhận thức và đánh giá một vấn đề gì; cần phải có sự hiểu biết sâu sắc. Người xưa nói: “Bình kỳ tâm luận thiên hạ sự”_ nghĩa là: để cho tâm mình phẳng lặng, không bị chi phối bởi Thất tình – Lục dục, mà cần phải thực sự tu học cho đạt được tâm trong sáng (khinh an tâm).


2. “Đạt ngộ chơn pháp” phải trải qua 3 tiến trình là: Văn – Tư – Tu. Chính Đức Phật cũng đã trải qua từng làm người nghe.


Trong 5 năm hỏi đạo với các vị đạo sư đương thời, rồi lại lóng thần gạn lọc trong 6 năm tu luyện khổ hạnh, rút ra kinh nghiệm, thời gian 49 ngày đêm tham thiền nhập định phát thiền quán được thành tựu đạo qủa Vô thượng bồ đề, dứt khổ luân hồi, đắc qủa an lạc.


Người hoằng pháp phải chú trọng đến phương pháp nghệ thuật như:


- Tâm đức: (Nguyện lực bố giáo)
- Trí đức: (Năng lực uyên thâm Phật pháp)
- Giới Đức (Oai lực phát xuất từ sự tu hành của mình)


Thay Tổ làm Tổ. Thay Phật làm Phật! Đó là ý niệm chân chánh, là dục cầu thiết thực của người tu sĩ hiểu biết Phật pháp căn bản, Sự - Lý viên dung, khi ấy lập thân hành Bồ tát đạo. Do đó người hoằng pháp cần phải thông suốt và “tâm đắc” giáo lý Phật đà, cố rèn luyện cho mình đạt được những hạnh cao qúi như: 


- Lòng thương, sự chịu đựng, có đức tính khiêm tốn, nhẫn nhục,v.v…* Điểm duy nhất là phải “âm đắc”, đạt cho được 8 chữ đầu đường: “Sanh diệt, diệt rồi. Tịch diệt là chơn”

3. Thích nghi con người và hoàn cảnh:
Đối với loài người Đức Phật dạy: “Là cha, là mẹ, là anh, là em của ta đã luân hồi trong sinh tử nhiều đời”. Cho nên không phân chia màu da, chủng tộc, tôn giáo, đảng phái chính trị nào cả. Người hoằng pháp có trách nhiệm dẫn dắt chúng sanh được an vui giải thoát.

Tóm lại, người hoằng pháp phải dõng mãnh phát nguyện đoạn trừ phiền não, thoát ly sanh tử, và tâm đắc uyên thâm Phật pháp, phải khế lý – khế cơ, thực hiện câu: “Hoằng pháp vi gia vụ, lợi sanh vi bổn hoài” Cuộc sống hòa hợp làm tốt đạo đẹp đời, xây dựng xã hội chủ nghĩa Việt Nam giàu mạnh, đủ những yếu tố là người giảng sư thành công mỹ mãn.

BAN BIÊN TẬP BHP LƯỢC GHI