Close

Mục đích Hoằng Pháp

Phẩm Hạnh Tỳ Kheo

09/07/2013 7:29 SA

I. DẪN NHẬP


Khai nguyên từ Ấn Độ cách đây hơn 2500 năm. Phật giáo hiện diện trên hành tinh này, cũng chính là Đức Phật Sakya Muni thị hiện trên cỏi đời này, do đại sự nhân duyên “Khai-Thị chúng sinh Ngộ-Nhập Phật Tri Kiến” (Saddharma Pundarika Sutta).


Khi Đức Phật thuyết pháp Tứ Diệu Đế, chuyển Pháp luân đầu tiên, khai ngộ cho năm anh em Kiều Trần Như. Từ đó, ngôi Tam Bảo hình thành, cũng chính là hệ thống giáo hóa hiện hữu. Đây là hệ thống giáo dục Viên mãn, Chân thực, trên nền tảng Khoa học Nhân văn, khai phóng Nhân bản..., không phân biệt phạm trù nào, giai cấp nào trong nhân thế.


Hệ thống giáo dục Viên mãn này thực sự khai hóa (chuyển Mê khai Ngộ). Để hoàn thiện tự thân (Tự Độ), đoạn Hoặc chứng Chơn, chuyển Phàm thành Thánh, và tùy duyên giúp đỡ (giáo dục) tha nhân (độ tha) cùng giải thoát.


-Đức Thế Tôn dạy rằng: “-Bậc thiện tri thức, hãy truyền dạy giáo pháp cao siêu, hãy đem lại sự tốt đẹp cho người khác” (Maha Magga).


-“Hãy đi các Tỳ Khưu ... đem lại hạnh phúc cho nhiều người, vì lòng Từ bi, hãy đem lại sự tốt đẹp, lợi ích và hạnh phúc cho Chư Thiên và Nhân loại... mỗi người hãy đi một ngã...”
(Maha Magga).


Đến nay, Phật Giáo đã được Tứ chúng tryền bá nhiều nơi trên thế giới, trong đó quốc gia Việt Nam và Phật Giáo Việt Nam có đủ duyên hội tụ và phát triển được cả hai hệ thống tư tưởng: Nam truyền (Nguyên thỉ) và Bắc truyền (Phát triển).


II. NỘI DUNG


1. PHẠM HẠNH CAO THƯỢNG


“Phẩm chất đạo đức của Tăng già thời Đức Phật hẳn là rất cao vời khiến rất nhiều vị đạt Thánh quả”. (Tăng già thời Đức Phật. HT. T Chơn Thiện).


-Kinh Tứ Thập Nhị Chương: Đức Phật dạy rằng: “Những người từ giả mẹ cha, xuất gia, nhận biết tự tâm, rõ suốt bản tánh, ngộ pháp Vô vi, gọi là bậc Sa Môn, thường giữ gìn 250 giới, sống đời Thanh tịnh, tu hành bốn pháp Chơn đạo, thành bậc A-La-Hán... Những vị này đoạn Ái dục như đoạn tứ chi không còn dùng được nữa”.


-Những vị Tỳ Khưu đến với Đức Phật vốn đã có căn cơ, trình độ tu tập vững vàng, tâm linh đã được..., chỉ nghe Đức Phật giảng... đã chứng quả được liền. Như: năm anh em Kiều Trần Như, nhóm Da Xá, anh em Ưu Lâu Tần Loa Ca Diếp, Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liền... đấy là những vị được nhận vào giáo đoàn, bằng lời phán của Đức Phật “Lại đây-này Tỳ Khưu”, được gọi là những “Thiện Lai Tỳ Khưu”.


-Kinh dạy rằng: 1.200 vị Tỳ Khưu đệ tử đầu tiên của Đức Phật, toàn là các vị đắc A-La-Hán quả... đều được gọi là “Thiện Lai Tỳ Khưu”(-Tăng già thời Đức Phật-HT. T Chơn Thiện).


“Những bậc xuất gia làm Sa Môn, dứt bỏ ái dục, nhận biết nguồn tâm của mình, hiểu rõ lý mầu của Phật, ngộ pháp Vô vi, trong không Sở đắc, ngoài không Sở cầu, Tâm không ràng buộc..., cũng chẳng còn kiết nghiệp, dứt sự suy nghĩ, dứt sự tạo tác... mà tự nó cao tột, gọi đó là Đạo”. (Kinh Tứ Thập Nhị Chương)


“Khi Đức Phật thành đạo, đi giáo hóa chúng sinh trong hình ảnh một vị Sa Môn, người ta đã gọi Ngài là Đại Sa Môn (Maha Samana) và gọi các tu sĩ đệ tử Ngài là các Sa Môn Thích tử (Sakyaputtaya Samanas) còn các đệ tử tu sĩ của Đức Phật, thì gọi mình Tỳ Khưu (Bhikkhu)...”


Trên đây là hình ảnh vị Tỳ Khưu lý tưởng, đệ tử Đức Phật, sống tự nhiên với phạm hạnh cao thượng và đầy đủ Đức tướng: Đức trí tuệ, Đức giải thoát, Đức pháp thân (Đức vô ngã, Đức vô chấp). Tăng đoàn này nhằm trợ duyên Đức Phật. Vào đời đem an lạc, hạnh phúc, thanh tịnh giải thoát cho chúng sinh.


“Bao nhiêu Thiện Ác vượt xong,
Sống đời phạm hạnh, tác phong cao vời.
Với đầy hiểu biết ở đời,
Xứng danh được gọi là người Tỳ Khưu”.
                              (Dhammapada Sutta 267 )


2. PHẨM HẠNH TỲ KHƯU:


Khi Tăng già phát triển về số lượng cũng đồng nghĩa với sự phát huy phẩm hạnh, biểu hiện sự thanh tịnh hòa hợp, nhân cách này tiêu biểu trong đời sống sinh hoạt hằng ngày, đối với tự thân phải tinh tấn hành trì: Giới-Định-Tuệ và phát triển Tứ Vô Lượng Tâm, đối với tha nhân phải trang nghiêm, hòa hợp, thanh tịnh (Lục hòa cộng trụ).


2.1. * Giới-Định-Tuệ:


Kinh Pháp Cú, Đức Phật dạy phẩm hạnh vị Tỳ Khưu:


“_Thân tịnh lời an tịnh,                     “_Người chế ngự tự thân,
An tịnh khéo thiền tịnh,                       Chế ngự ý và lời,
Tỳ Khưu bỏ thế vật,                            Vui thích nội Thiền định,
Xứng danh bậc tịch tịnh”.                     Độc thân biết vừa đủ,
(Dhammapada Sutta. 378)                   Thật xứng gọi Tỳ Khưu”.
                                                                    (Dhammapada-362)


-Do thực tu Bát Chánh Đạo...Giới-Định-Tuệ được trang nghiêm, phẩm chất đạo đức thăng hoa,... trên lý tưởng Tự độ và Độ tha mà vị Tỳ Khưu không thể thiếu được.


Đức Phật dạy rằng: “-Này Bà-la-môn, Trí tuệ được Giới-Hạnh làm cho Thanh tịnh. Giới-Hạnh được Trí tuệ làm cho Thanh-tịnh. Ở đâu có Giới-Hạnh ở đó có Thanh tịnh, Ở đâu có Thanh tịnh ở đó có Giới-Hạnh. Người có Giới-Hạnh nhất định có Thanh tịnh, người có Thanh tịnh nhất định có Giới-Hạnh. Giới-Hạnh và Thanh tịnh được xem là tối thắng trên đời”.(Digha Nikaya Sutta: Sonadanda)

Giới-Định-Tuệ là phương pháp tu tập, một Tỳ Khưu thực hành viên mãn… không còn Nhân-Duyên-Nghiệp-Quả chi phối …chấm dứt sinh tử luân hồi, sẽ chứng đắc … Thánh quả … thành tựu … Vô sinh pháp nhẫn …


“_Tỳ Khưu nhiều Hoan hỷ,                     “_Không trí tuệ, không thiền,
Tịnh tín giáo pháp Phật,                          Không thiền, không trí tuệ,
Chứng cảnh giới tịch tĩnh,                        Người có thiền, có tuệ
Các hạnh an tịnh lạc”.                             Nhất định gần Niết Bàn”.
(Dhammapada-381)                                            (Dhammapada-372)


2.2 . * Tứ Vô Lượng Tâm: (Đại Từ-Bi-Hỷ-Xã) là phương pháp tu tập phát tâm rộng lớn, để xóa bỏ chấp thủ về Ngã, để giúp ích cho đời mà một Tỳ Khưu phải thực hiện cho được:


“-Đại từ: là phát lòng rộng lớn muốn làm cho người khác được an vui.

-Đại bi: là phát lòng rộng lớn thương chúng sinh đau khổ.


-Đại hỷ: là phát lòng rộng lớn hân hoan khi thấy người khác được hạnh phúc.


-Đại xã: là phát lòng rộng lớn buông bỏ mọi sự ràng buộc.


Tứ Vô Lượng Tâm là phương diện quên mình thể hiện vô Ngã giúp ích mọi người trên cuộc đời”. (Tăng Già thời Đức Phật- HT. T Chơn Thiện)


Đức Như Lai dạy rằng: “-Ai tu Từ thì có thể dứt lòng Tham dục. Ai tu Bi thì có thể dứt lòng Sân nhuế. Ai tu Hỷ thì có thể dứt lòng Phiền muộn. Ai tu Xã thì dứt được lòng Tham dục và Sân nhuế của chúng sinh”. (Kinh Đại Bát Niết Bàn Kinh, quyển 15)


“Bỏ trói buộc loài Người,
Vượt trói buộc cỏi Trời,
Giải thoát mọi buộc ràng,
Ta gọi Bà-la-môn”.
(Dhammapada Sutta.417)


Tứ Vô Lượng Tâm là pháp môn tu tập, để một Tỳ Khưu đạt phạm hạnh tròn đầy: Tình cảm cao thượng (Từ-Bi), lý trí (Trí tuệ) siêu xuất thế gian (Hỷ-xã)… vượt thoát chấp thủ Ngã – chấp thủ Pháp … viên mãn thành tựu (Parimita).


“_Tỳ Khưu trú Từ Bi,
Tín thành giáo pháp Phật,
Chứng cảnh giới tịch tịnh,
Các hạnh an tịnh lạc”.
(Dhammapada Sutta.368)


2.3 . * Lục Hòa Kính: là 6 phương pháp tôn kính hòa hợp tạo an tịnh
trong nếp sống của Tăng đoàn:


* Thân hòa kính: Cùng một thân nghiệp hòa kính, như lễ bái v.v...


* Khẩu hòa kính: Cùng một khẩu nghiệp hòa kính, như tán vịnh v.v...


* Ý hòa kính: Cùng một ý nghiệp hòa kính, như tín tâm v.v...


* Giới hòa kính: Hòa kính đồng một giới pháp v.v...


* Kiến hòa kính: Hòa kính cùng một kiến giải về Thánh trí v.v...


* Lợi hòa kính: Hòa kính cùng một lợi dưỡng về y thực v.v...
(Phật học từ điển Huệ Quang)


Phương pháp hòa kính cộng trụ này đặt trên nền tảng: Giới luật-Trí tuệ-Nhân cách đạo đức (phẩm hạnh), tạo bình đẳng lợi ích, tinh thần an tịnh cho Tăng đoàn, mà mỗi vị Tỳ Khưu không thể không thực hiện.


“Trong một cộng đồng hòa hợp thanh tịnh như pháp, như luật của Đức Phật chế, mọi xu hướng lệch lạc và ngã chấp không có điều kiện phát triển”. (Tăng Già thời Đức Phật-HT. T Chơn Thiện).


3. HOÀN THIỆN NHÂN CÁCH

 
“Tăng Già đã lớn mạnh, đặc biệt là về số lượng cần phải có phép tắc...điều hành sinh hoạt, chặt chẽ rõ ràng để giữ vững sự thuần nhất hòa hợp giữa các Tỳ Khưu”.


“Phẩm hạnh của vị Tỳ Khưu quyết định phẩm chất của Tăng già và sự tồn tại của Tăng già. Phẩm hạnh ấy là kết quả của việc thực hiện tu-tập của Trí tuệ và hành trì Thiền định, là điều kiện để thành tựu Trí tuệ Giải thoát. “Patimokkha”, giới bổn Tỳ Khưu để các Tỳ Khưu giữ mình mà tiếp tục tu-học. Đấy là sự giữ gìn thân-khẩu-ý của mình cho thanh tịnh, khiến toàn thể Tăng già thanh tịnh”.


“Một Tỳ Khưu luôn tâm niệm rằng mình phải tinh tấn tu-học để giải thoát và giúp chúng sinh giải thoát, hay nói khác đi là Tự độ và Độ tha”.


“Với tư cách là một thành viên Tăng già, vị Tỳ Khưu ngoài nổ lực tu-tập để tự giải thoát còn có bổn phận xây dựng đẩy mạnh giải thoát của Tăng già, làm cho Tăng già đồng nhất với Phật và Pháp, làm cho trọn vẹn ý nghĩa Tam Bảo mà mình đã đặt sinh mệnh vào nương tựa”.


“Vấn đề đạo đức chỉ đặt ra cho những người chưa giải thoát trong việc tiến đến mục đích giải thoát tối hậu. Ở các vị đã giải thoát trong tính chất viên mãn tuyệt đối, tính chất đạo đức tự phát tiết ra bên ngoài, khiến người bình thường trong một giới hạn nào đó cũng nhận ra được đạo đức cao vời của các vị. Sở dĩ bảo rằng trong một giới hạn nào đó là vì người bình thường... chỉ nhận ra được những phản ảnh của một đạo đức tương đối ở đời mà thôi”.


“Nếu ghi nhận có cái thấy tiêu cực về thái độ thanh thoát... cũng ở chính người Tu sĩ Phật giáo, ta cũng không thể không nhận định rằng: đạo đức là sự thể hiện của tri thức trong cuộc sống, trong thế giới hiện tượng, tương đối và giới hạn. Đạo đức không phải là sự giải thoát mà là sự phò trợ đưa đến giải thoát và là kết quả từng bước tu-tập để giải thoát”.
(Tăng già thời Đức Phật-HT. T Chơn Thiện)


-Đức Phật dạy rằng: “Một Tỳ Khưu chân chính chẳng những khước từ mọi khao khát, đam mê và thoát ly những trạng thái xấu ác khác. Mà còn tinh tấn trú tâm trong bốn trạng thái Thiền định: Tứ Niệm Xứ. Vị Tỳ Khưu như thế, rất đáng được kính trọng và được gọi là Tỳ Khưu chân chính”. (Angutta Nikaya Sutta-page 292)


-Hoàn thiện phẩm hạnh tức là kiện toàn nhân cách đạo đức (Chân, Thiện, Tịnh), được thể hiện tự thân vị Tỳ Khưu, bất cứ thời đại nào... vẫn khế lý, khế cơ và không bao giờ lỗi thời...

-Đức Thế Tôn dạy rằng: “_Một Tỳ Khưu được gọi chính thức với sự đầy đủ: Giới – Định và Trí tuệ”. (Digha Nikaya Sutta.I )


III. KẾT LUẬN


Phẩm hạnh của vị Tỳ Khưu, cũng chính là sinh mệnh của vị ấy (Giới thân, Huệ, mạng), và là mạng mạch của Tăng đoàn, của Giáo hội, của Phật giáo trên phương diện xã hội nhân văn, mặc dù nhân cách đạo đức này có tính tương đối trên phương diện thế giới hiện tượng sinh diệt.


Lịch sử luôn biến thiên, lòng người luôn thay đổi, vũ trụ vạn hữu vô thường, không gian, thời gian vô ngã tính. Thời đại ngày nay phẩm chất đạo đức của vị Tỳ Khưu nhất thiết phải hiện hữu, vị Tỳ Khưu phải luôn luôn ý thức rằng mình phải chánh tinh tấn tu-học để giải thoát và giúp chúng sinh cùng giải thoát (Tự độ-Độ tha), vị Tỳ Khưu muốn độ người khác, ít ra phải đạt đôi chút thành quả nhất định nào đó trên lộ trình tu-học... Hẳn nhiên ai cũng dể dàng nhận định rằng: Tự mình không độ được mình, thì khó mà độ được người khác...


“Và sẽ là nguy hiểm vô chừng, không ai có thể tha thứ được thái độ : Nhất manh dẫn quần manh” . (Phật học Phổ thông, HT.T Thiện Hoa)


-Kinh Di Giáo, Đức Phật dạy rằng: “Này các Tỳ Khưu, các vị thường phải nhất tâm siêng năng cầu đạo giải thoát, hãy luôn luôn ý thức rằng vạn vật trên cõi đời này dù động hay bất động, đều là tướng hoại bất an (vô thường). Vì vậy quí vị hãy nên sớm cầu tự độ”.


-Trong: Yết Ma Yếu Chỉ “Tuổi già và sự chết đang gần kề... Thưa các Đại Đức: chỉ cần Đắc đạo, hãy nhất tâm cần cầu Tinh tấn, vì sao vậy, Chư Phật do nhất tâm cần cầu Tinh tấn mà chứng đắc Vô Thượng Bồ Đề, huống nữa là các Thiện pháp khác. Mỗi người đang lúc còn khỏe mạnh, hãy nổ lực tu thiện, sao lại không cần cầu, đâu thể đợi đến già, ham muốn nào vui chi, ngày nay đã qua, mạng sống lần giảm như cá thiếu nước đâu có vui gì”. (Yết Ma Yếu Chỉ, HT. T Trí Thủ)


Đức Thế tôn dạy rằng: “Tâm-Phật-Chúng sinh thị tam vô sai biệt” (Kinh Hoa Nghiêm)

-“Nếu Tam Bảo là Chơn Tánh của Thực tại, thì Tam Bảo là cái vốn có của mọi chúng sinh, có điều chúng sinh do còn mê chưa thể hiện được Tam Bảo, thì vị Tỳ Khưu phải giúp đỡ chúng sinh thể hiện cho được. Nghĩ cho cùng, đấy cũng chỉ là sự vận hành tự nhiên của cái công năng vô lượng của Tam Bảo”. (Tăng Già thời Đức Phật. HT. T Chơn Thiện)


Đây là tư tưởng: “Đồng Thể Tam Bảo”, đồng thời cũng là tư tưởng chính trong phẩm Pháp Sư, Kinh Pháp Hoa, Đức Phật dạy: “Vào nhà Như Lai-mặc áo Như Lai-ngồi tòa Như Lai” (Saddharma Pundarika Sutra).


Bhikkhu Thích Minh Chơn